|
|
|
|
|
 |
|
|
NO.1. CHOICE
OF HOSPITAL AND MOTHERS |
|
|
|
|
|
BƠM SỮA VÀ CẤT GIỮ SỮA
|
|
|
Bài hướng dẫn cho những
người mẹ sinh con bình thường |
|
|
Cách bơm sữa mẹ |
|
■
|
Rửa tay kỹ bằng xà phòng và nước
nóng.
|
|
|
 |
|
■
|
Rửa tất cả các bình
đựng sữa và bộ phận nào của máy bơm sữa đã chạm vào bầu vú hoặc dính sữa. Rửa
bằng nước xà phòng nóng hoặc trong máy rửa chén. Tráng kỹ rồi hong khô trên một
cái khăn sạch. Nếu con bạn bị bệnh hoặc sinh non, bệnh viện có thể yêu cầu bạn
tiệt trùng các bộ phận bơm sữa. |
|
■
|
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng đi kèm với máy bơm
sữa và làm đúng theo các hướng dẫn. Tiệt trùng các bộ phận bơm sữa mỗi ngày một
lần theo như chỉ dẫn. |
|
■
|
Tập bơm sữa trong lúc bạn cảm thấy thoải mái,
không mệt mỏi, và khi thấy vú căng. Cố gắng mỗi ngày một lần cho con bạn bú ở
một bên vú trong lúc bạn bơm sữa phía bên kia. Hoặc bơm trong vòng một vài phút
nếu đứa bé bỏ lỡ một cữ bú hoặc chỉ bú trong một lúc ngắn. Đọc bảng Hướng Dẫn
Cất Giữ Sữa Mẹ dưới đây để biết cách cất giữ sữa mẹ. |
|
■
|
Những người mẹ đi làm nên giúp con mình tập bú
sữa qua bình chỉ sau khi bé đã tập bú sữa mẹ vững vàng. Tốt hơn hết nên chờ
khoảng 3 đến 4 tuần rồi mới bắt đầu cho cháu bú sữa qua bình. Nếu bạn gặp vấn
đề gì về việc cho bú sữa mẹ, hãy yêu cầu giúp đỡ. |
|
■
|
Bơm sữa 3 lần trong mỗi ngày làm việc kéo dài
8 tiếng đồng hồ, hay mỗi 3 tiếng đồng hồ khi bạn không ở gần con. Chỉ cần bơm
sữa trong mười phút vào thời gian nghỉ giải lao và 15 phút vào giờ ăn trưa với
một máy bơm sữa tốt là đủ để giúp bảo vệ nguồn sữa của bạn. Nếu mỗi ngày bạn
không thể bơm sữa 3 lần, hãy ráng bơm càng nhiều càng tốt trong ngày. Việc cho
bú vào buổi chiều tối và cuối tuần sẽ có lợi cho nguồn sữa của bạn cũng như bảo
vệ mối quan hệ khắng khít đặc biệt với con mình.
|
|
|
|
|
|
Cách cất giữ sữa mẹ
|
|
■
|
Sữa bơm có thể có màu, độ đặc và mùi vị khác
nhau tùy theo chế độ ăn uống của bạn. Đây là điều bình thường. Khi được cất
giữ, sữa phân ra làm nhiều lớp khác nhau. Lớp kem nổi lên mặt. Lắc nhẹ bình sữa
ấm để hòa các lớp sữa vào nhau.
|
|
■
|
Bạn có thể đổ thêm những lượng nhỏ sữa mẹ
nguội vào cùng bình chứa sữa trong tủ lạnh bất cứ lúc nào trong ngày. Đừng pha
sữa ấm vào sữa đã mát nguội. |
|
■
|
Cất sữa vào đồ đựng bằng thủy tinh hoặc nhựa
cứng, hoặc trong các túi được đặc chế để đựng sữa mẹ.
|
|
■
|
Chia sữa làm các phần cỡ từ 60 đến 150ml rồi
đem đông lạnh. Sữa tan đông nhanh hơn với số lượng ít hơn, và bạn sẽ để phí ít
sữa hơn cũng như tránh cho bé bú quá mức.Chất lỏng nở ra khi đông lạnh, vậy thì
hãy nhớ chừa ra một khoảng trống phía trên để cho bình hoặc túi sữa không bị
nổ.
|
|
■
|
Đậy chặt đồ đựng sữa. Viết ngày tháng lên một
miếng băng keo đục rồi dán lên túi hoặc bình sữa. Dùng sữa cũ nhất trước.
|
|
■
|
Nếu bạn không dự định cho bé dùng sữa trong
vòng một vài ngày, hãy làm đông sữa ngay tức khắc và cất ở phần lạnh nhất trong
ngăn đá. Đừng dựng chai hay túi sữa tựa vào thành ngăn đá.
|
|
|
|
|
|
Hướng dẫn về việc cất giữ sữa mẹ |
|
|
(Xem tại
đây) |
|
|
|
|
|
Cách làm tan đông |
|
■
|
Để sữa qua đêm trong tủ lạnh để tan đông, hoặc
giữ chai sữa dưới dòng nước ấm đang chảy để làm tan đông nhanh hơn. Bạn cũng có
thể cho bình/túi sữa đã được bịt kín vào một bát nước ấm trong vòng 20 phút để
cho nhiệt độ sữa tăng lên ngang bằng với thân nhiệt.
|
|
■
|
Có thể cất sữa đã tan đông trong tủ lạnh trong
vòng 24 tiếng đồng hồ. Đừng cho sữa đông trở lại.
|
|
|
CẢNH BÁO:
Đừng bao giờ hâm sữa mẹ trong lò vi ba (microwave). Sữa hâm trong lò vi ba có
thể làm cho miệng của con bị bị phỏng nặng. (Lò vi ba hâm không đều nên dù bạn
thấy sữa ấm nhưng có thể có những điểm nóng bên trong). Việc hâm sữa trong lò
vi ba cũng có thể làm thay đổi thành phần sữa mẹ.
|
|
|
|
|
|
Những lời khuyên về việc cho con
bú |
|
■
|
Chọn một núm bình có lỗ nhỏ để cho bú từ từ
(slow flow); các trẻ dưới 6 tháng tuổi chỉ nên bú từ 90 đến 150ml sữa trong mỗi
cữ bú.
|
|
■
|
Thỉnh thoảng lấy núm bình ra khỏi miệng đứa bé
để cho bé lấy hơi trước khi bú tiếp.
|
|
■
|
Ngừng để vỗ cho bé hết trớ khi cần thiết.
|
|
■
|
Nếu thấy bé có vẻ nhõng nhẽo giữa những cữ bú,
thì có thể là do bé đang khát. Cho bé uống chừng 30 đến 60ml sữa. Các bé từ 4
tháng tuổi trở lên có thể nhắp một ngụm nước từ một cốc nước.
|
|
■
|
Tránh cho bé uống sữa quá mức. Đưa cho bé một
núm vú giả hay một thứ đồ chơi nhai để cho bé mút chơi sau khi cho bú xong bình
sữa.
|
|
■
|
Đôi khi trẻ sơ sinh không bú hết bình sữa mẹ,
khiến cho người mẹ băn khoăn không biết là có nên cất bình sữa vào tủ lạnh để
dùng lại sau hay không. Chúng tôi không có đủ thông tin để xác định rằng điều
này có an toàn hay không. Xin hỏi bác sĩ của bạn.
|
|
|
|
|
|
Nguồn sữa của bạn và nhu cầu của
bé |
|
■
|
Trước đây chúng ta thường cho là trẻ càng lớn
lên thì người mẹ cần phải sản sinh ra càng nhiều sữa. Giờ đây các nhà khoa học
biết rằng, trong những người mẹ khỏe mạnh nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong
6 tháng đầu, thì nguồn sữa thường không thay đổi mấy trong suốt 6 tháng đó. |
|
■
|
Trong những tuần đầu sau khi sinh, trẻ sơ sinh
bú thường xuyên hơn và tăng trưởng rất nhanh. Đến ngày thứ 10, phần lớn trẻ sơ
sinh đạt số cân bằng lúc mới sinh (nếu đã bị sụt cân trong những ngày đầu).
Trong vòng vài tháng kế tiếp, các bé gái thường tăng cân 1 ounce một ngày, và
các bé trai mỗi ngày tăng trên 1 ounce một chút.
|
|
■
|
Khoảng 3 đến 4 tháng tuổi, tỷ lệ tăng trưởng
của trẻ bú sữa mẹ bắt đầu chậm dần lại. Những cháu tiếp tục tăng cân nhanh sau
thời gian này có thể dễ bị chứng béo phì sau này. Điều này có nghĩa là cùng
lượng sữa ban đầu sẽ vẫn đủ để nuôi trẻ cho đến lúc trẻ bắt đầu dùng thức ăn
đặc vào 6 tháng tuổi.
|
|
■
|
Trong tuần đầu tiên sau khi sinh, những bà mẹ
cho một đứa con bú sữa mẹ thường sản sinh từ 570 đến 900 ml sữa mỗi ngày. Các
cháu từ 1 đến 6 tháng tuổi thường bú trung bình từ 570 đến 900 ml mỗi ngày.
(Daley, Owens, Hartmann, 1993.) Một “bữa ăn” trung bình cho trẻ sơ sinh chứa từ
90 đến 150ml sữa mẹ. Sữa ngoài khó tiêu hóa hơn và do đó mức độ hấp thụ kém
hơn. Các cháu bú sữa ngoài có thể cần được cho bú nhiều hơn. Hãy tham khảo ý
kiến của bác sĩ .
|
|
|
Nguồn Medela
USA
|
|
|
Các
nguồn tham khảo: Butte N, Garza C, Smith E, Nichols B: Human milk
intake and growth in exclusively breast-fed infants (Việc hấp thụ sữa mẹ và sự
tăng trưởng ở những trẻ sơ sinh chỉ bú sữa mẹ), J Pediatrics 1984; 104:187-194.
|
|
|
|
|
|
Daly S, Owens R, Hartmann P: The
Short-Term Synthesis and Infant-Regulated Removal of Milk in Lactating Women
(Sự tổng hợp các thành phần trong sữa mẹ và việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong
thới đoạn đầu), Experimental Physiol 1993; 78:209-220.
|
|
|
|
|
|
Dewey K, Heinig M, Nommsen L,
Peerson J, Lonnerdal B: Growth of breast-fed and formula-fed infants from 0-18
months (Sự tăng trưởng ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ sơ sinh bú sữa ngoài
ở độ tuổi từ 0-18 tháng.) The DARLING study (Cuộc nghiên cứu “The DARLING”),
Pediatrics 1992; 89(6):1035-1040.
|
|
|
|
|
|
Dewey K: Is breastfeeding
protective against child obesity? (Sữa mẹ có giúp phòng tránh tình trạng béo
phì ở trẻ em hay không?) J Human Lactation 2003; 19(1):9-18.
|
|
|
|
|
|
Hamosh M, Ellis L, Pollock D, et
al: Breastfeeding and the Working Mother: Effect of Time and Temperature of
Short-term Storage on Proteolysis, Lipolysis, and Bacterial Growth in Milk
(Việc cho bú sữa mẹ và những người mẹ đi làm: Tác động của thời gian và nhiệt
độ cất giữ sữa ngắn hạn đối với quá trình hủy protein, hủy chất béo, và sự sinh
sôi vi khuẩn trong sữa), Pediatrics 1996; 97(4):492-498.
|
|
|
|
|
|
Lawrence R and Lawrence R:
Breastfeeding: A Guide for the Medical Profession (Bú sữa mẹ: Sách hướng dẫn
dành cho các chuyên viên y tế), 1999.
|
|
|
|
|
|
Quan R, Yang C, Rubinstein S, et
al: Effects of Microwave Radiation on Anti-infective Factors in Human Milk (Tác
động của bức xạ vi ba đối với các nhân tố chống viêm nhiễm trong sữa mẹ),
Pediatrics 1992; 88:667-679.
|
|
|
|
|
|
Sosa R, Barness L: Bacterial
growth in refrigerated human milk (Sự sinh sôi vi khuẩn trong sữa mẹ cất trong
tủ lạnh), Am J Dis Child 1987; 141:111-115.
|
|
|
|
|
|
Stock J, Morhbacher N: The
Breastfeeding Answer Book (Sách giải đáp các vấn đề về việc cho bú sữa mẹ), La
Leche League International, 2003.
|